BỆNH E.COLI Ở GÀ

Vi khuẩn E.coli thường trú trong đường tiêu hoá. Vi khuẩn có sẵn ở ngoài môi trường. Tuy nhiên chỉ có một số Serotype gây bệnh. Bệnh thường xảy ra ở giai đoạn gà con và hay nhiễm kế phát ngay sau bệnh CRD. Vì vậy có nhiều thể bệnh khác nhau. Tỷ lệ bệnh và chết phụ thuộc vào từng vùng, từng trại có biện pháp phòng và vệ sinh khác nhau.

1. Động vật cảm thụ

Các loài gia cầm đều nhiễm bệnh này. Riêng ở gà trong mọi lứa tuổi đều bị nhiễm.

2. Nguyên nhân gây bệnh E.Coli ở gà

Do vi khuẩn E.coli gây bệnh.

3. Phương thức lây truyền

Truyền  qua trứng do cơ thể mẹ bị nhiễm bệnh.

Lây qua đường hô hấp do gà bị bệnh CRD làm cho niêm mạc phế quản bị tổn thương. Vi khuẩn xâm nhập qua vết thương vào cơ thể.

Qua vỏ trứng do bị nhiễm bẩn từ phân hoặc môi trường ở chuồng trại bị nhiễm trùng.

Có  thể lây qua thức ăn và nước uống bị nhiễm trùng.

4. Triệu chứng và bệnh tích bệnh E.Coli ở gà

Do con đường lây nhiễm khác nhau, vi khuẩn E.coli gây bệnh với các thể khác nhau như sau:

bệnh E,Coli trên gà

4.1.Thể viêm túi khí

Kế phát các bệnh đường hô hấp như CRD, tụ huyết trùng, viêm phế quản và khí quản truyền nhiễm. Vi khuẩn E.coli có thể bị hít vào trong những mô đã bị tổn thương của đường hô hấp. Vi khuẩn phát triển rất nhanh trong cơ thể và định hướng vào các túi khí. Túi khí bị dày lên có màu trắng như bã đậu làm cho con vật khó thở. Vi khuẩn có thể lây lan ra các cơ quan phủ tạng như tim, gan và các túi khí vùng bụng. Nó làm tăng sinh các màng bao tim, màng bao gan và màng phúc mạc. Kết quả làm cho tuần hoàn tim bị đình trệ, nhu động ruột bị giảm, tỷ lệ chết lên đến 8-10%.

4.2. thể  bại huyết

Do vi khuẩn xâm nhập vào máu quá nhiều. Điều kiện sức khoẻ gà kém như khi vận chuyển, tiêm phòng, thức ăn thay đổi, giai đoạn đẻ cao và kế phát sau các bệnh hô hấp.

Triệu chứng mệt mỏi, không thích đi lại.

Chết đột ngột không rõ bệnh tích. Tỷ lệ chết nhanh này chiếm tỷ lệ từ 1-2%.

Bệnh tích chỉ rõ ở những con bị bệnh kéo dài từ 3-4 ngày trở đi: Màng tim, gan và xoang phúc mạc bị viêm dính vào tim, gan và ruột màu sắc trắng đục.

4.3.Thể viêm ruột

Ở thể này bệnh thường nhiễm trùng kế phát sau các bệnh cầu trùng, viêm ruột hoại tử, ký sinh trùng. Trong các trường hợp bị suy dinh dưỡng và thiếu vitamin A làm cho các niêm mạc ruột bị tổn thương. Khi nhiễm bệnh gà thường bị tiêu chảy nặng, phân có dịch nhầy màu nâu, xanh, trắng.

Bệnh tích ở đường tiêu hoá có chứa máu và dịch nhầy. Thành ruột sưng to, dày và phù nề.

4.4.Thể viêm vòi trứng

Do vi khuẩn xâm nhập cơ thể qua lỗ huyệt, qua nang trứng hoặc từ máu vào. Vi khuẩn gây viêm đường sinh dục. Vì vậy khi trứng đi qua sẽ bị nhiễm bệnh E.coli làm cho phôi chết trước khi nở ra, hoặc chết sau khi nở ra.

Gà mái đẻ giảm: trứng đôi khi có máu, hoặc gà chết đột ngột trong những giai đoạn đẻ cao.

4.5.Thể chết phôi

Nhiễm trùng E.coli là nguyên nhân gây hiện tượng chết phôi. Vi khuẩn có thể xâm nhập qua vỏ trứng vào phôi gây chết phôi.

4.6.Các thể khác

Gây viêm rốn: Rốn bị sưng đỏ do vi khuẩn nhiễm từ mẹ qua trứng vào phôi hoặc từ  ngoài môi trường vào rốn.

Viêm khớp: Khớp sưng to, đỏ.

5. Chẩn đoán

– Dựa trên triệu chứng lâm sang và bệnh tích sau khi khám mổ.

– Lấy bệnh phẩm xét nghiệm và phân lập vi khuẩn.

– Cần phân biệt với các bệnh có triệu chứng lâm sang giống E.coli như bệnh bạch lỵ, bệnh thương hàn, bệnh phó thương hàn.

– Phân biệt với bệnh có bệnh tích gần giống với E.coli như bệnh CRD.

6. Phòng và điều trị bệnh E.Coli ở gà

6.1.Phòng bệnh

+ Phòng bằng vaccine Neotyphomix.

Đây là loại vaccine chết nhũ dầu do Pháp sản xuất. Gồm 3 Serotype E.coli 01,02 và 078 và P.multocida A:3. Quy trình phòng bệnh như sau:

Chủng lần thứ nhất lúc 2 tuần tuổi. Tiêm bắp hay dưới da liều 0,2-0,3cc/con.

Chủng lần thứ 2 lúc 5-7 tuần tuổi. Tiêm liều 0,3cc/con. Hoặc trước khi đẻ 2 tuần(đối với vùng an toàn dịch). Vaccine sẽ tạo miễn dịch cho gà mẹ và truyền kháng thể qua trứng cho gà con, phòng bệnh được 1-3 tuần kể từ lúc nở.

+ Phòng bằng thuốc kháng sinh

Ta có thể dung một trong những loại thuốc kháng sinh giống như phòng và trị bệnh bạch lỵ gà, thương hàn và phó thương hàn như sau:

Ampicillin: Uống liều 100-150mg/kg thể trọng( pha 1g/1,5 lít nước). Dùng liên tục 1-5 ngày tuổi. Đối với gà lớn và gà đẻ dung liên tục 3 ngày/tháng và sau khi tiêm phòng các loại vaccine hoặc sau khi điều trị bệnh CRD.

Chloramphenicol: Uống liều 50-60mg/kg thể trọng/ngày. Liên tục 1-7 ngày sau khi nở. Đối với gà lớn và gà đẻ dung liệu trình như Ampicillin.

Spectam W.S 50%: Cho uống liều 50-100mg/kg thể trọng/ngày. Liệu trình dung như Ampicillin.

Neomycin: Cho uống liều 50-60mg/kg thể trọng/ngày. Liệu trình như trên.

Cosumix: Cho uống liều 100mg/kg thể trọng/ngày(1-2g/lít nước). Liệu trình như trên.

Imequil hoặc Flumequil: Cho uống liều 20mg/kg thể trọng/ngày(1g/lít nước). Liệu trình như trên.

AntiColi B hay Colicopha: Cho uống liều 20mg/kg thể trọng/ngày(1g/lít nước). Liệu trình như trên.

+ Phòng bằng biện pháp vệ sinh

Vệ sinh chuồng trại định kỳ để giảm hàm lượng vi khuẩn có trong môi trường.

Chuồng trại phải thông thoáng khí để các khí độc như ammoniac …không gây hại cho cơ thể.

Định kỳ kiểm tra vi khuẩn và làm kháng sinh đồ để xác định vi khuẩn quen thuốc.

Các biện pháp phòng bệnh chuồng trại, lò ấp, trứng………như ở bệnh bạch lỵ, thương hàn gà.

6.2.Trị bệnh 

Dùng một trong các loại thuốc kháng sinh trị bệnh như trong bệnh bạch lỵ gà và thương hàn gà. Vì vi khuẩn E.coli là vi khuẩn Gram(-) giống như vi khuẩn Salmonella. Những kháng sinh thường dung như Cosumix, colicopha….Thuốc dùng cho gà đẻ tiêm loại bencomycin S, Biotex, Biôclistin là tốt nhất vì thuốc không ảnh hưởng tới tỷ lệ đẻ trứng.

Liều lượng và liệu trình dung như trong điều trị bệnh bạch lỵ và thương hàn gà.

Cuối cùng, bà con có thể xem thêm về các bệnh trên gia cầm tại đây !

Chúc bà con nuôi dưỡng thành công!

TRỢ GIÚP

TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI & GIẢI PHÓNG THÚ Y TRỊNH THUỶ  

        “Trợ thủ đắc lực của nhà nuôi dưỡng”

Bác sĩ thú y: Phạm Xuân Trịnh

DD: 0977 809 555

Zalo: +84 983843015